Trang chủ Tin tức sự kiện

Y học cổ truyền gọi thuốc bổ nghĩa là “bổ cái hư” và “ích cái tổn”, Có tác dụng nâng cao chính khí của cơ thể bị suy nhược về các mặt âm, dương, khí, huyết và tân dịch.

Thuốc bổ là những thuốc làm tăng cường các chức năng sinh lý bị yếu trong hai trạng thái hư nhược thường gặp là âm hư và dương hư.

Thuốc bổ ích được chia làm 4 loại cụ thể: bổ âm, bổ dương, bổ khí, bổ huyết:

Thuốc bổ âm

Đây là những thuốc được sử dụng trong các bệnh mà huyết dịch bị kém (thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết), do viêm nhiễm lâu ngày, hoặc do rối loạn các hoạt động thần kinh thực vật, biểu hiện bằng các triệu chứng lâm sàng mà thầy thuốc cổ truyền thường mô tả như sau:

- Nếu hư nhược do lao phổi, ho lâu ngày, ho ra máu, gò má đỏ, sốt hâm hấp, ra mồ hôi trộm, y học cổ truyền gọi là phế âm hư.

- Nếu hư nhược do các chứng đau nhức trong xương, sốt hâm hấp, ù tai, đau lưng, di tinh, di niệu, đau gót chân, miệng khô, lưỡi ráo, y học cổ truyền gọi là chứng thận âm hư.

- Thuốc bổ âm là những thuốc chữa các tình trạng bệnh do phần âm của cơ thể bị suy kém (âm hư), tân dịch bị hao tổn, hư hỏa bốc lên gây ra: miệng khô, đau họng, nước tiểu đỏ ít, táo bón.

Nói chung là các phần âm của các tạng phế, thận, vị và tân dịch bị hư tổn.

Chống chỉ định: không dùng thuốc bổ âm cho những người tỳ vị hư: tiêu chảy, chậm tiêu…

Theo y học hiện đại, các phương thuốc bổ âm của y học cổ truyền nhằm chữa các bệnh chứng sau:

- Các bệnh do rối loạn quá trình ức chế thần kinh: cao huyết áp, mất ngủ, suy nhược thần kinh thể ức chế giảm.

- Trẻ em ra mồ hôi trộm, đái dầm… do hệ thần kinh chưa phát triển hoàn chỉnh.

- Các triệu chứng của rối loạn hệ thần kinh thực vật trong bệnh lao: sốt hâm hấp, gò má đỏ, ho ra máu, mồ hôi trộm…

- Các bệnh chất tạo keo: nhức trong xương, hâm  hấp sốt, khát nước…

- Một số trường hợp cơ địa dị ứng, nhiễm khuẩn trong: viêm bàng quang mạn tính, hen phế quản, viêm phế quản mạn tính…

- Các trường hợp sốt kéo dài không rõ nguyên nhân.

- Thời kỳ hồi phục trong một số bệnh truyền nhiễm, nhiễm khuẩn có sốt kéo dài gây tình trạng mất nước: da khô, miệng khát, táo bón…

Bài thuốc bổ âm kinh điển: đó là bài Lục vị gồm: thục địa, hoài sơn, đơn bì, trạch tả, sơn thù, phục linh.

Dạng dùng: tễ, sắc. Công dụng: bổ can thận âm.

Thục địa

Thuốc bổ dương

Thuốc bổ dương là những thuốc chữa trị các tình trạng bệnh do phần dương của cơ thể bị suy kém (dương hư). Nói chung là các phần dương của các tạng phủ tâm, tỳ, thận bị hư tổn.

Chống chỉ định: không dùng thuốc bổ dương cho những người thuộc chứng âm hư sinh nội nhiệt.

Theo y học hiện đại, thuốc bổ dương của y học cổ truyền nhằm chữa các bệnh chứng sau:

- Các bệnh do hưng phấn thần kinh giảm: liệt dương, di tinh, đau lưng, ù tai.

- Trẻ em chậm phát dục: chậm mọc răng tóc, chậm biết đi, thóp chậm liền, trí tuệ chậm phát triển.

- Người lão suy: đau lưng, mỏi gối, tiểu tiện nhiều lần.

- Đái dầm thể hư hàn (không phải là âm hư  sinh nội nhiệt).

- Hen phế quản mãn.

- Một số bệnh khớp mãn tính.

- Bệnh do hưng phấn thần kinh bị giảm sinh ra mệt mỏi, buồn ngủ, thiếu phấn chấn, huyết áp hạ, gọi là thận dương hư.

- Bệnh do thở kém vì trở ngại thông khí ở phổi (do giãn phế quản, hen, xơ phổi…) gọi là khí hư.

- Bệnh do thiếu vận động tiêu hóa làm kém ăn, chậm tiêu, đầy bụng, tiêu chảy mãn tính, trương lực cơ giảm làm sa dạ dày, sa trực tràng, sa sinh dục…, goi là tỳ dương hư.

Bài thuốc bổ dương kinh điển bát vị gồm: thục địa, hoài sơn, đơn bì, trạch tả, sơn thù, phục linh, quế nhục, phụ tử (chế).

Dạng dùng: tễ, sắc. Công dụng: bổ thận dương.

Thuốc bổ khí

Thuốc bổ khí là những thuốc chữa các chứng bệnh gây ra do khí hư. Nói chung là phần khí của các tạng phế, tỳ bị hư tổn.

Theo y học hiện đại, thuốc bổ khí, của y học cổ truyền nhằm chữa các bệnh chứng sau:

- Các chứng do suy nhược cơ thể: ăn kém, ngủ kém, sụt cân, hồi hộp, thiếu máu, phù thũng, thở yếu.

- Các bệnh mãn tính: tiêu chảy kéo dài, viêm đại tràng mãn, viêm loét dạy dày - tá tràng, viêm gan mạn, sa dạ dày, sa trực tràng, giãn phế quản, hen suyễn, viêm phế quản mạn, phế khí thũng, rong huyết, rong kinh, sa sinh dục, táo bón ở người già…

Bài thuốc kinh điển Tứ quân: đảng sâm, phục linh, bạch truật, cam thảo.

Công dụng: bổ khí, kiện tỳ.

Thuốc bổ huyết

Thuốc bổ huyết là những thuốc chữa những chứng bệnh gây ra do huyết hư. Nói chung, bổ huyết là bổ phần vật chất của cơ thể. Nên khi bổ huyết tức là có bổ âm.

Theo y học hiện đại, thuốc bổ huyết của y học cổ truyền nhằm chữa các bệnh chứng sau:

-  Các chứng thiếu máu, mất máu.

- Các chứng do suy nhược cơ thể: hồi hộp, mất ngủ, ăn kém.

- Các bệnh rối loạn kinh nguyệt: rong huyết, rong kinh, kinh nguyệt không đều, kinh ra ít…

- Các bệnh gây đau khớp, cứng khớp, teo cơ …

Bài thuốc kinh điển Tứ vật và Quy tỳ:

Tứ vật: xuyên khung, đương quy, thục địa, bạch thược.

Dạng dùng: hoàn, sắc.

Quy tỳ: đảng sâm, hoàng kỳ, đương quy, bạch truật, cam thảo, phục thần, táo nhân, viễn chí, nhãn nhục, mộc hương.

Dạng dùng: tễ, sắc.

Công dụng:

- Tứ vật: bổ huyết.

Quy tỳ: kiện tỳ, dưỡng tâm, ích khí, bổ huyết.

Thuốc bổ dưỡng của y học cổ truyền qua nghiên cứu của khoa học hiện đại càng khẳng định thêm tác dụng. Các bài thuốc bổ của y học cổ truyền rất đa dạng phong phú, từ một vài bài thuốc cổ phương kinh điển qua gia giảm cho ra rất nhiều bài thuốc có tác dụng bồi bổ hoặc trị các bệnh khác.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

(Đơn vị Điều trị ban ngày Cơ sở 3, BV. Đại học Y Dược TP.HCM)

Bồn bồn nổi tiếng với nhiều món ăn như: dưa bồn bồn, bồn bồn nhúng lẩu, canh chua, bồn bồn xào tôm, làm gỏi, thậm chí có thể ăn sống. Đồng thời, bồn bồn là vị thuốc hay, chữa được nhiều bệnh.

Mô tả cây

Bồn bồn là loại thực vật sống vùng đất ngập nước, phát triển trong ao hồ hoặc mé sông, nơi có dòngchảy chậm, có khả năng chịu phèn mặn, có khả năng chịu ngập sâu đến 1m. Bồn bồn được xem là cây dại mọc hoang nhưng những năm gần đây người dân Hậu Giang, Sóc Trăng, Cà Mau và Bạc Liêu đã trồng bồn bồn trong ao nuôi tôm, cá nước ngọt.

Bắt đầu từ tháng 5, khi mùa mưa ở miền Tây bắt đầu thì bồn bồn tươi tốt. Từ thời điểm này đến hết mùa mưa, nông dân miền Tây chăm bón cho ruộng bồn bồn để thường xuyên thu hoạch cọng non.     Cây bồn bồn có tên khoa học là Typha orientalis G.A. và một số khác mang các tên: Typha auhustata Bory et Chaub, Typha augustifolia L, Typha latifoliaL, Typha daviana Hand Mazz hoặc Typhaminima Funk... Tất cả đều cùng họ Hương bồ (Typhaceae). Bồn bồn còn có nhiều tên khác như: thủy hương bồ, hương bồ thảo, cỏ nến, cỏ lác... Hoa bồn bồn thuộc loại đơn tính, nằm trên cùng một trục, hoa đực ở trên có lông ngắn màu vàng nâu, hoa cái ở dưới có lông màu nâu nhạt.

Khi thu hái cây bồn bồn, cắt lấy hoa đực phơi khô, giã nhỏ, rây lấy phấn hoa, đem phơi lại lần nữa. Loại phấn hoa này có tên là bồ hoàng (Pollel Typhae), nếu để nguyên như thế gọi là sinh bồ hoàng, đem sao đen gọi là hắc bồ hoàng. Theo các tài liệu Đông y cổ thì bồ hoàng có vị cam, tính bình; đi vào ba kinh can, tỳ và tâm bào.Trong Đông y thường lấy phấn hoa, ngoài ra còn dùng lá, hoa và mầm rễ để làm vị thuốc. Bồ hoàng là vị thuốc thông dụng nhất từ cây bồn bồn được lấy từ hoa đực của những cây bồn bồn. Bồ hoàng không mùi, không vị, nổi trên nước. Có thể dùng bồ hoàng sống hoặc sao đen, tùy vào mục đích chữa bệnh.

Sinh bồ hoàng có tác dụng hoạt huyết, hành ứ, tiêu viêm; dùng chữa các loại bệnh trật đã tổn thương, phụ nữ đau bụng kinh, kinh bế, kinh nguyệt không đều, huyết ứ, đau ngực, đau hông, bạch đái, tiểu tiện không thông và một số trường hợp bị viêm nhiễm. Riêng hắc bồ hoàng có tác dụng thu liễm, chỉ huyết; dùng để chữa các chứng ho ra máu, khạc ra máu, chảy máu cam, thổ huyết, rong kinh, rong huyết, tiểu tiện ra huyết... Bồ hoàng được dùng dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột đều có hiệu quả. Liều dùng mỗi lần từ 4 - 8g.

Điều trị một số bệnh của trẻ nhỏ từ hoa bồn bồn

Chữa tai chảy mủ: bồ hoàng tán nhỏ thành bột mịn, rắc vào lỗ tai của trẻ. Mỗi ngày rắc 1 lần.

Chữa tai bị chảy máu ở trẻ nhỏ: dùng bồ hoàng sao đen, tán nhỏ thành bột mịn, rắc vào lỗ tai trẻ nhỏ.

Chữa chứng mũi chảy máu lâu ngày không khỏi ở trẻ: dùng bồ  hoàng 3 phần, 1 phần hoa thạch lựu, hai t hứ đem trộn đều, tán thành  bột mịn nhỏ, mỗi ngày cho trẻ uống 2 lần vào buổi sáng sớm và tối, mỗi lần chỉ khoảng 4g bột thuốc, hòa vào nước sôi để nguội cho trẻ uống.

Chữa lưỡi sưng thũng, không nói được ở trẻ: dùng bồ hoàng rồi bôi vào lưỡi cho trẻ nhỏ nhiều lần trong ngày.

Chữa phế nhiệt, ho khạc ra máu ở trẻ nhỏ: dùng 4g bồ hoàng, huyết dư 4g, nước ép củ sinh địa hoặc củ mạch môn chiêu thuốc.

Bồ hoàng là vị thuốc thông dụng nhất từ cây bồn bồn được lấy từ hoa đực của những cây bồn bồn

Một số công dụng khác

Tuệ Tĩnh, đại danh y của Việt Nam, rất tâm đắc với vị thuốc bồ hoàng, ông đã để lại trong Nam dược thần hiệu những bài thuốc hay có bồ hoàng như:

Thổ huyết: bồ hoàng sao đen mỗi lần uống từ 4 - 8g.

Một số công dụng khác

Tuệ Tĩnh, đại danh y của Việt Nam, rất tâm đắc với vị thuốc bồ hoàng, ông đã để lại trong Nam dược thần hiệu những bài thuốc hay có bồ hoàng như:

Thổ huyết: bồ hoàng sao đen mỗi lần uống từ 4 - 8g.

Chảy máu cam: bồ hoàng sao đen 4g và thanh đại 4g; uống một lần.

Đại tiện ra máu: bồ hoàng sao đen, mỗi lần uống từ 4 - 8g với nước cốt lá sen vànước cốt củ cải.

Khạc ra máu: bồ hoàng và lá sen, hai vị bằng nhau, sao, tán bột; mỗi lần uống từ 8 - 12g.

Đau bụng kinh, rong kinh, kinh nguyệt không đều: bồ hoàng sao, lá lốt tẩm muối sao, tán nhỏ luyện mật làm hoàn bằng hạt đậu; mỗi lần uống 30 hoàn.

Sản phụ đau bụng do máu hôi ra không hết: bồ hoàng sao qua một lớp giấy; mỗi lần uống 4g.

Một số y thư của Trung Quốc cũng ghi lại nhiều bài thuốc kinh nghiệm có bồ hoàng như sau:

Lưỡi sưng đầy miệng: sinh bồ hoàng đặt dưới lưỡi, ngày thay vài lần là khỏi (Giản tiện phương).

Thổ huyết, tiểu tiện ra huyết: bồ hoàng sao tán bột, mỗi lần uống 4g với nước cốt sinh địa (Thánh tễ Tổng lục phương).

Mụt mọc trong ruột, trĩ ra huyết, ra nước vàng: bồ hoàng tán bột, mỗi lần uống 8g với nước lạnh (Trửu hậu phương).

Phụ nữ có mang bị động thai như muốn đẻ non: bồ hoàng sao đen tán bột, uống 4g với nước giếng (Tập nhất phương).

Hạ bộ bị thấp nhiệt, ẩm ướt gây ngứa ngáy, khó chịu: sinh bồ hoàng tán bột thoa vài lần là khỏi (Thiên kim phương).

Lỗ tai bị thối: sinh bồ hoàng tán bột thổi vào vài lần là khỏi (Thánh huệ phương).

Giáo sư Đỗ Tất Lợi cũng ghi lại một bài thuốc kinh nghiệm trong tác phẩm Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam dùng chữa các chứng xuất huyết bên trong: bồ hoàng 5g, cao ban long, cam thảo 2g; sắc uống.

Liều dùng và chú ý:

- Uống 3 - 20g, bọc lúc cho vào thuốc thang. Bồi đắp ngoài tùy theo yêu cầu.

- Phụ nữ có thai không dùng (bồ hoàng sống có tác dụng co tử cung).

- Không có triệu chứng ứ huyết không dùng.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

(Đơn vị điều trị ban ngày - Cơ sở 3 BV. Đại học Y Dược TP.HCM)

Chàm là một bệnh da thường gặp với biểu hiện lâm sàng là các tổn thương da đa dạng, có xu hướng xuất tiết, phân bố đối xứng, dễ tái phát và trở thành mạn tính hóa,

Chàm là một bệnh da thường gặp với biểu hiện lâm sàng là các tổn thương da đa dạng, có xu hướng xuất tiết, phân bố đối xứng, dễ tái phát và trở thành mạn tính hóa, cảm giác ngứa rất dữ dội. Bệnh này thuộc về phạm trù chứng “phong chẩn” của y học cổ truyền.

Y học cổ truyền cho rằng bệnh này có thể do những nguyên nhân sau:

- Ăn uống không điều độ, uống rượu, ăn cay hoặc tanh quá nhiều làm tổn thương đến tỳ vị. Tỳ mất kiện vận sẽ làm cho thấp nhiệt nội sinh và ứ trệ, đồng thời ngoại cảm phải phong thấp nhiệt tà. Nội ngoại tà tương tác với nhau rồi ứ trệ lại ở bì phu mà sinh ra bệnh.

- Cũng có khi vì cơ thể hư nhược, tỳ bị thấp làm khốn, khiến cho cơ nhục không được nuôi dưỡng rồi sinh bệnh.

- Cũng có thể còn vì thấp nhiệt uất lâu ngày, làm hao tổn phần âm huyết, huyết hư hóa táo rồi sinh phong, tạo nên chứng huyết hư phong táo, làm cho bì phu không được nuôi dưỡng mà thành bệnh.

Điều trị toàn thân

Thể thấp nhiệt cùng thịnh: thường gặp thể này ở giai đoạn chàm cấp tính.

Pháp điều trị: thanh nhiệt lợi thấp, lương huyết giải độc.

Bài thuốc Long đởm tả can thang gia giảm: nhiệt thịnh: gia bạch mao căn, thạch cao; nhiệt độc thịnh: gia đại thanh diệp; đại tiện táo: gia đại hoàng. Cũng có thể dùng Thanh nhiệt lợi thấp thang.

Bạch tật lê

Thể tỳ hư thấp thịnh:

Pháp điều trị: kiện tỳ, táo thấp, dưỡng huyết nhuận phu.

Bài thuốc: trừ thấp vị linh thang gia giảm: thấp thịnh, xuất tiết nhiều thì gia: tỳ giải, xa tiền tử.

Thể huyết hư phong táo:

Pháp điều trị: dưỡng huyết sơ phong, trừ thấp nhuận táo.

Bài thuốc: tiêu phong tán hoặc Tứ vật tiêu phong tán gia giảm: thấp thịnh gia: xa tiền tử, trạch lan. Ngứa nhiều gia: bạch tật lê, khổ sâm.

Khổ sâm

Điều trị tại chỗ

Giai đoạn cấp tính:

Khi bệnh mới phát chỉ đỏ tại chỗ, sẩn và mụn nước chưa vỡ, chưa xuất tiết thì nên dùng các thuốc ôn hòa tiêu viêm, tránh kích thích. Chọn cách đắp ướt các thuốc như thuốc rửa Lò cam thạch, dung dịch 2% băng phiến.

Khi các mụn nước đã vỡ và xuất tiết nhiều thì nên dùng các thuốc thu liễm, tiêu viêm... nhằm thúc đẩy da hồi phục. Có thể sắc lấy nước đặc đắp ướt những thuốc sau: rau sam 60g; hoàng bá, sinh địa du mỗi vị 30g; bồ công anh, long đởm thảo, cúc hoa, mỗi vị 30g.

Khi có bội nhiễm có thể thêm vào nước đắp các vị như xuyên tâm liên, sài đất, bản lam căn.

Khi xuất tiết nhiều có thể dùng Tam diệu tán hoặc Trừ thấp tán, trộn với glycerin thành cao lỏng rồi bôi lên tổn thương.

Giai đoạn cuối của giai đoạn cấp tính là giai đoạn bong vảy, nếu xử lý không tốt sẽ rất dễ làm cho bệnh kéo dài và chuyển thành mạn tính. Lúc này nên dùng các thuốc bảo vệ tổn thương, tránh các kích thích từ bên ngoài, thúc đẩy lớp sừng tái sinh và giải quyết tình trạng viêm còn sót lại. Thuốc nên dùng là các bài Cao thanh lương, Cao hoàng liên.

Giai đoạn bán cấp: nguyên tắc điều trị lúc này là tiêu viêm, trừ ngứa, thu liễm. Có thể sử dụng mỡ oxít kẽm, Trừ thấp tán, Tân tam diệu tán luyện với dầu thực vật thành cao, dầu tử thảo 5%, dầu địa du oxít kẽm 10%.

Chàm mạn tính: nguyên tắc điều trị là chữa ngứa, ức chế sự tăng sinh của biểu bì, tiêu trừ tình trạng viêm thâm nhiễm trong lớp chân bì. Có thể chọn cao hoàng liên, cao dầu đậu đen 10 - 20%.

Chàm là một bệnh da thường gặp, do hay tái phát nên diễn biến kéo dài, mang lại nhiều thống khổ cho người bệnh. Các thuốc kháng histamin không cho được kết quả như mong đợi; liệu pháp corticoid tuy có tác dụng nhất định, nhưng sau khi dừng thuốc thường có hiện tượng tái phát nặng hơn, lại có nhiều tác dụng phụ.

Thuốc y học cổ truyền với tác dụng chống viêm, trừ ngứa, điều tiết miễn dịch có tác dụng rất tốt với việc điều trị bệnh này, không có tác dụng phụ của các thuốc kháng histamin và corticoid, không bị tái phát nặng hơn. Do đó, việc phát huy những ưu thế của thuốc y học cổ truyền có thể cho những bài thuốc có hiệu quả tốt, an toàn là một việc làm rất có ý nghĩa.

 

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

(Đơn vị Điều trị ban ngày - Cơ sở 3- BV. Đại học Y Dược TP.HCM)

Nhân kỷ niệm 72 năm ngày Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam, Cơ sở 3 - Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình khám bệnh từ thiện cho bà con nghèo và gia đình chính sách của xã Mỹ Hạnh Đông, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang vào ngày Chủ nhật 10.9.2017 vừa qua.

Buổi khám diễn ra trong không khí chan hoà tình cảm ấm áp của anh em y bác sĩ Cơ sở 3 Bệnh viện ĐHYD TPHCM và quý bà con xã Mỹ Hạnh Đông.

Để phục vụ công tác khám phát thuốc chu đáo, Cơ sở 3 – Bệnh viện ĐHYD TPHCM còn tiến hành một số cận lâm sàng cơ bản cho người đến khám như: đo điện tim, siêu âm bụng tổng quát, chụp xquang (tim phổi, cột sống, các khớp…), thử đường huyết…và đặc biệt thực hiện thủ thuật cấy chỉ điều trị một số bệnh lý mãn tính.

Với số lượng người khám hơn 300, số lượng y bác sĩ hơn 40, buổi khám đã diễn ra thành công tốt đẹp, được sự tin tưởng và yêu mến của toàn thể bà con và chính quyền xã Mỹ Hạnh Đông.

Tin tưởng trong tương lai, Cơ sở 3 sẽ tiếp tục tổ chức các buổi khám phát thuốc miễn phí phục vụ bà con nghèo vùng sâu vùng xa, gia đình chính sách, nhằm góp phần với toàn xã hội chăm lo sức khoẻ  cộng đồng.

Sau đây là một số hình ảnh từ buổi khám.

Đối với bệnh viêm gan virút nói riêng, viêm gan vàng da nói chung, Đông y có nhiều bài thuốc chữa rất có hiệu quả.

Đây không phải là những bài thuốc đặc trị mà chính là tăng cường chức năng gan, giúp chức năng gan trở lại trạng thái bình thường.

Đông y không phân thành bệnh viêm gan mà gọi chung là hoàng đản (chứng vàng da). Theo Y văn, hoàng đản nguyên nhân chủ yếu do thấp nhiệt uất kết trong tỳ vị, ảnh hưởng đến can, sinh ra mắt vàng, mặt vàng rồi đến toàn thân đều vàng, nước tiểu vàng sẫm. Nếu độc khí của thấp nhiệt lưu lại không tiêu được sẽ làm cho càng ngày càng ăn kém, gan càng ngày càng to.

Điều trị theo chứng bệnh

Về phân loại, Đông y phân ra hai chứng hoàng đản: Dương hoàng và Âm hoàng.

Dương hoàng biểu hiện mặt, mắt vàng tươi sáng như màu quả quýt, da vàng nhuận, bệnh nhân cảm giác lợm giọng, nôn ọe, vùng thượng vị đau tức, nước tiểu đỏ và sẻn, có sốt, thân thể mệt mỏi, tinh thần uể oải, ăn kém, rêu lưỡi vàng nhờn, hoặc trắng mỏng, chất lưỡi đỏ. Phép chữa là thanh nhiệt, lợi thấp. Bài thuốc: nhân trần 30g, vọng cách 20g, chi tử 10g, vỏ đại (sao vàng) 10g, ý dĩ 30g, thần khúc 10g, actisô 20g, cuống rơm nếp 10g, nghệ vàng 20g, mã đề 12g, mạch nha 16g, cam thảo nam 8g. Tất cả cho vào ấm đất với 500ml nước, sắc còn 150ml, chắt ra, cho nước sắc tiếp, lấy thêm 100ml, trộn chung cả hai lần, chia đều uống trong ngày, uống trước các bữa ăn. Uống liền 7 - 10 ngày.

Âm hoàng có triệu chứng mặt, mắt và da vàng hãm tối, bụng đầy, rối loạn tiêu hóa, vùng thượng vị, trung vị, hạ vị đều đau tức, không sốt, thân thể mệt mỏi, rêu lưỡi trắng mỏng, hoặc hơi vàng trơn, chất lưỡi nhợt nhạt.

TRÀ VIÊM GAN do đội ngũ y bác sĩ của BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HCM - CƠ SỞ 3 NGHIÊN CỨU VÀ BÀO CHẾ thành công giúp hổ trợ điều trị viêm gan.

Phép chữa là ôn hóa hàn thấp. Bài thuốc thường dùng: nhân trần 30g, vọng cách 20g, gừng khô 8g, quế thông 4g, ý dĩ 30g, thần khúc 10g, actisô 20g, cuống rơm nếp 10g (sao), nghệ vàng 20g, củ sả 8g, mạch nha 16g, cam thảo nam 8g (sao). Sắc uống như bài trên.

Điều trị theo thể bệnh

Viêm gan mạn tính thường xảy ra sau khi mắc các bệnh viêm gan cấp (viêm gan siêu vi, viêm gan nhiễm độc); sau khi mắc bệnh sốt rét hoặc suy dinh dưỡng kéo dài. Biểu hiện lâm sàng thường gặp nhất là sự giảm sút chức năng gan, thoái hóa tế bào gan và các rối loạn về tiêu hóa, cơn đau vùng gan, vàng da, tiêu chảy hay táo bón, chậm tiêu, chán ănê

Nguyên nhân theo y học cổ truyền là do công năng của tỳ vị, can bị rối loạn, ảnh hưởng tới âm huyết hoặc tân dịch, từ đó ảnh hưởng tới sự hoạt động của cơ thể. Một số bài thuốc điều trị theo từng thể bệnh:

Thể can nhiệt tỳ thấp: viêm gan có vàng da kéo dài. Người bệnh thường thấy đắng miệng không muốn ăn, bụng đầy trướng, ngực sườn đầy tức, miệng khô nhợt, đau nóng ở vùng gan, da sạm tối. Tiểu tiện ít, vàng, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền. Phép chữa là thanh nhiệt lợi thấp, thoái hoàng, kiện tỳ trừ thấp. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: nhân trần 20g, chi tử 12g, uất kim 8g, ngưu tất 8g, đinh lăng 12g, hoài sơn 12g, ý dĩ 16g, biển đậu 12g, rễ cỏ tranh 12g, sa tiền tử 12g, ngũ gia bì 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: nhân trần ngũ linh tán gia giảm: nhân trần 20g, bạch truật 12g, sa tiền12g, đẳng sâm 16g, phục linh 12g, trư linh 8g, trạch tả 12g, ý dĩ 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Hoàng cầm hoạt thạch thang gia giảm: hoàng cầm 12g, hoạt thạch 12g, đại phúc bì 12g, phục linh 8g, trư linh 8g, bạch đậu khấu 8g, kim ngân 16g, mộc thông 12g, nhân trần 20g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Cây nhân trần

Thể can uất tỳ hư, khí trệ: hay gặp ở viêm gan mạn do viêm gan siêu vi. Người bệnh có biểu hiện mạn sườn phải đau, ngực sườn đau tức, miệng đắng, ăn kém, người mệt mỏi, đại tiện phân nát, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền. Phép chữa là sơ can kiện tỳ lý khí. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: rau má 12g, mướp đắng 12g, thanh bì 8g, chỉ thực 8g, uất kim 8g, hậu phác 8g, ý dĩ 16g, hoài sơn 16g, biển đậu 12g, đinh lăng 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Sài hồ sơ can thang gia giảm: sài hồ 12g, bạch thược 8g, chỉ thực 6g, xuyên khung 8g, hậu phác 6g, cam thảo 6g, đương quy 6g, đại táo 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: Sài thược lục quân thang: bạch truật 12g, đẳng sâm 12g, phục linh 8g, cam thảo 6g, trần bì 6g, bán hạ 6g, sài hồ 12g, bạch thược 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Thể can âm bị thương tổn: người bệnh có biểu hiện đầu choáng, hồi hộp, ngủ ít, hay mê, lòng bàn tay bàn chân nóng, chất lưỡi đỏ, táo bón, nước tiểu vàng, mạch huyền sác. Phép chữa là tư âm dưỡng can. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: sa sâm 12g, mạch môn 12g, thục địa 12g, thiên môn 8g, kỷ tử 12g, huyết dụ 16g, hoài sơn 16g, ý dĩ 16g, hà thủ ô 12g, tang thầm 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Nhất quán tiễn gia giảm: sa sâm 12g, sinh địa 12g, nữ trinh tử 12g, mạch môn 12g, bạch thược 12g, kỷ tử 12g, hà thủ ô 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Nếu mất ngủ gia toan táo nhân 10g; sốt hâm hấp gia địa cốt bì 12g, thanh hao 8g. Mạch môn là vị thuốc trị viêm gan mạn thể can âm bị thương tổn rất hiệu quả.

Thể khí trệ huyết ứ: hay gặp ở thể viêm gan mạn có kèm theo hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch chủ. Người bệnh có biểu hiện sắc mặt tối sạm, môi thâm, lưỡi tím, lách to, người gầy, ăn kém, tuần hoàn bàng hệ ở bụng, đại tiện phân nát, nước tiểu vàng ít, chất lưỡi đỏ hoặc có điểm ứ huyết, rêu lưỡi vàng dính, mạch huyền sác. Phép chữa là sơ can lý khí hoạt huyết. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: kê huyết đằng 12g, cỏ nhọ nồi 12g, uất kim 8g, tam lăng 8g, nga truật 8g, chỉ xác 8g, sinh địa 12g, mẫu lệ 16g, quy bản 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Tứ vật đào hồng gia giảm: bạch thược 12g, đương quy 8g, xuyên khung 12g, đan sâm 12g, hồng hoa 8g, đào nhân 8g, diên hồ sách 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Nếu lách to gia tam lăng 12g, nga truật 12g, mẫu lệ 20g, mai ba ba 20g.

BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Thời tiết nắng nóng, khi nhiệt độ cao, mức dao động nhiệt độ càng lớn nguy cơ dẫn đến bệnh đột quỵ lại càng cao.

Già, trẻ đều có khả năng bị bệnh khi nắng nóng. Đối tượng dễ đột quỵ nhất: người cao tuổi, người mắc bệnh mạn tính (tim mạch, huyết áp...).

Dấu hiệu cảnh báo nguy cơ đột quỵ

Người đang hoạt động ngoài trời nắng: đột ngột mất ý thức, ngất; da nóng ran; kiểm tra nhiệt độ cơ thể có thể lên tới 40 - 410C hoặc hơn. Bệnh nhân đổ nhiều mồ hôi, da ẩm ướt, yếu nửa người (liệt tay, chân, méo mặt...), không cử động được, không nói được hoặc khó nói, nói ngọng, không xác định được thời gian và không gian.

Trường hợp tiến triển từ nhẹ đến nặng: có triệu chứng kiệt sức do nắng nóng: ra mồ hôi quá nhiều, đau đầu, khó chịu, mặt đỏ, đỏ da toàn thân, cảm giác nghẹt thở, thở nhanh, nông, có khi đau bụng, buồn nôn và nôn mửa, đau đầu, choáng váng hoặc ngất, mệt mỏi, chuột rút. Thân nhiệt tăng kèm các triệu chứng: lú lẫn, mất thăng bằng, thở dốc, hơi thở yếu, choáng, ngất, chóng mặt, hoa mắt, mặt tái nhợt, mạch nhanh, chuột rút. Có các biểu hiện tổn thương thần kinh: li bì, giãy giụa, mê sảng, hôn mê và tử vong nếu không cấp cứu kịp.

Nhiều người khi thấy bệnh nhân có những dấu hiệu này thì thường là sẽ nghĩ rằng chắc là bệnh nhân bị say nắng, cảm nắng nên có thể bỏ qua. Điều này có thể gây nguy hiểm khi bỏ qua, bệnh nhân đột quỵ không được cấp cứu khẩn cấp, kịp thời, nhanh chóng hôn mê trong vài phút, thậm chí tử vong; thân nhiệt quá cao làm suy tim, suy thận và tổn thương não.

Bệnh nhân đổ nhiều mồ hôi, da ẩm ướt, yếu nửa người...

Nguyên nhân đột quỵ do nắng nóng

- Để thích nghi với thời tiết nắng nóng, cơ thể bài tiết mồ hôi nhiều. Do bị mất một lượng nước khá lớn khiến nồng độ máu trong cơ thể giảm, độ kết dính trong máu tăng cao làm tăng huyết áp, tăng nguy cơ đột quỵ.

- Ảnh hưởng bởi nắng nóng còn khiến hệ tuần hoàn, đặc biệt là tim hoạt động kém kèm theo sự giãn mạch dẫn đến thiếu máu nuôi não, đặc biệt ở người có tiền sử xơ vữa động mạch, cao huyết áp.

- Bên cạnh đó, thời tiết nắng nóng còn làm suy giảm chức năng các cơ quan, gây mất ngủ, rối loạn giấc ngủ…khiến nguy cơ đột quỵ dễ xảy ra. Nhiều người còn tìm cách tránh nóng bằng cách vào siêu thị, trung tâm thương mại hoặc để điều hòa với nhiệt độ quá thấp dễ dẫn tới giảm thân nhiệt đột ngột, khiến mạch máu dễ bị co lại và tình trạng đột quỵ có thể xảy ra.

Phòng ngừa

Trong thời tiết nắng nóng như hiện nay, chúng ta cần chủ động phòng ngừa đột quỵ có thể xảy ra cho bản thân và gia đình mình như:

- Theo dõi dự báo thời tiết để chủ động phòng tránh.

- Người cao tuổi không nên đi lại làm việc vào ngày nắng nóng, nhất là giờ cao điểm từ 10g sáng đến 4g chiều. Ra ngoài trời cần có mũ nón, uống nước.

- Nên mặc dài tay và đội mũ rộng vành để bảo vệ da khỏi ánh mặt trời. Quần áo nên nhẹ và được làm từ chất liệu thoáng mát; không nên đột ngột từ phòng điều hòa ra ngoài nắng ngay mà phải có thời gian thích ứng với nhiệt độ ngoài trời.

- Máy điều hòa: 26 - 280C. Hoặc làm mát nhà bằng cách che nắng, mở cửa cho thông thoáng, bật quạt.

- Uống nước thường xuyên để tránh mất nước, nên dùng thêm nước trái cây, rau xanh.

Thời tiết nắng nóng, khi nhiệt độ cao, mức dao động nhiệt độ càng lớn nguy cơ dẫn đến bệnh đột quỵ lại càng cao.

Già, trẻ đều có khả năng bị bệnh khi nắng nóng. Đối tượng dễ đột quỵ nhất: người cao tuổi, người mắc bệnh mạn tính (tim mạch, huyết áp...).

Dấu hiệu cảnh báo nguy cơ đột quỵ

Người đang hoạt động ngoài trời nắng: đột ngột mất ý thức, ngất; da nóng ran; kiểm tra nhiệt độ cơ thể có thể lên tới 40 - 410C hoặc hơn. Bệnh nhân đổ nhiều mồ hôi, da ẩm ướt, yếu nửa người (liệt tay, chân, méo mặt...), không cử động được, không nói được hoặc khó nói, nói ngọng, không xác định được thời gian và không gian.

Trường hợp tiến triển từ nhẹ đến nặng: có triệu chứng kiệt sức do nắng nóng: ra mồ hôi quá nhiều, đau đầu, khó chịu, mặt đỏ, đỏ da toàn thân, cảm giác nghẹt thở, thở nhanh, nông, có khi đau bụng, buồn nôn và nôn mửa, đau đầu, choáng váng hoặc ngất, mệt mỏi, chuột rút. Thân nhiệt tăng kèm các triệu chứng: lú lẫn, mất thăng bằng, thở dốc, hơi thở yếu, choáng, ngất, chóng mặt, hoa mắt, mặt tái nhợt, mạch nhanh, chuột rút. Có các biểu hiện tổn thương thần kinh: li bì, giãy giụa, mê sảng, hôn mê và tử vong nếu không cấp cứu kịp.

Nhiều người khi thấy bệnh nhân có những dấu hiệu này thì thường là sẽ nghĩ rằng chắc là bệnh nhân bị say nắng, cảm nắng nên có thể bỏ qua. Điều này có thể gây nguy hiểm khi bỏ qua, bệnh nhân đột quỵ không được cấp cứu khẩn cấp, kịp thời, nhanh chóng hôn mê trong vài phút, thậm chí tử vong; thân nhiệt quá cao làm suy tim, suy thận và tổn thương não.

- Người cao tuổi có bệnh tim mạch đã từng đột quỵ thì không nên ra ngoài nắng sau 10g sáng. Không làm việc hoạt động gắng sức khi cơ thể mệt mỏi, đói, khát khi ở ngoài trời nắng.

- Các yếu tố khác: kiểm soát stress, ăn uống lành mạnh (tăng cường trái cây rau quả); ngủ đủ giấc; kiểm soát huyết áp và đường huyết; tránh xa rượu bia; thuốc lá; khám sức khỏe định kỳ.

Đối với những người đã từng bị đột quỵ, cần phải lưu ý những điều như trên, tuy nhiên cần thận trọng hơn. Người nhà cần theo dõi sát vì dễ bị đột quỵ lại. Cần theo dõi sức khỏe định kỳ và dùng thuốc theo chỉ định, khi thấy bất thường trong cơ thể cần đi khám ngay.

 

Sơ cứu trong trường hợp bệnh nhân có những dấu hiệu đột quỵ và đưa đi cấp cứu ngay. Trong quá trình di chuyển cấp cứu cần chú ý những vấn đề sau:
- Nhanh chóng đưa bệnh nhân vào nơi thoáng mát, cởi bỏ bớt hoặc nới rộng quần áo, lau mát. Bệnh nhân bị ngất hoặc hôn mê không nên cố gắng cho uống nước vì dễ gây sặc nước vào phổi càng nguy hiểm. 
- Trường hợp bệnh nhân bị ngừng tim (bắt mạch hoặc sờ không thấy tim đập) phải làm hô hấp nhân tạo hà hơi thổi ngạt và ép tim ngoài lồng ngực.
- Nhanh chóng đưa bệnh nhân đến bệnh viện điều trị.

 

BS.CKII.HUỲNH TẤN VŨ